Friday, 29 January 2016

Sách

Tui thích lang thang nhà sách, nhìn những quyển sách mới trên kệ, lòng vui, vì dù sao vẫn còn người viết tha thiết với nghiệp văn chương, và với chính mình.

Tôi nói chính mình là từ kinh nghiệp bản thân qua mấy bận tập tành cầm viết. Viết không hề dễ, và viết cho hay lại càng không dễ chút nào. Viết cho bạn bè đọc hoàn toàn khác hẳn viết cho nhà xuất bản. Cái khó của viết không phải là kỹ thuật, theo tôi, mà là cái tình trong mỗi câu chữ được thể hiện ra sao. Nó thuộc về phạm trù cảm xúc, mà cảm xúc thì khó vay mượn, và không phải lúc nào ta cũng có cảm xúc đầy đặn để tuôn trào câu chữ.

Ba năm qua, tôi đi cũng nhiều, nhưng mà chưa viết ra được một câu nào cho ra ngô ra khoai. Cảm xúc mất rồi chăng? Không, không hề nào. Trong tôi vẫn còn rung rinh nhiều thứ lắm, từ mây từ gió, từ trăng hoa tuyết núi sông, từ nhân tình thế thái. 

To be continued...

Saturday, 23 January 2016

Chiều biên giới


Chiều cuối năm, may mà trời trong mây trắng, may mà mưa đã ngừng rơi, gió đã ngừng thổi, giông bão đã rời xa, chứ không thì buồn chết đi cho được, nhất là với những kẻ tha hương cầu thực, nơi xứ lạ quê người.

Chiều cuối năm, tàu neo giữa dòng biên giới, mọi vật lặng thinh, có cảm giác nghe rõ tiếng nước róc rách vỗ dưới thân tàu, lòng tự nhủ với lòng hãy ráng đợi thêm chút nữa, tàu sẽ rẽ sóng đưa ta về lại Nhà. Nhà ta là gương mặt thân yêu, là giọng nói thân quen, là món ăn thân thuộc, là những gì thuộc về ta, cũng như ta thuộc về.

Cả năm đi đâu cũng được, làm gì cũng được, nhưng những ngày cuối năm, sao lại muốn quanh quẩn trong nhà, hay la cà ngoài ngõ, đi mua thứ này, đi sắm thứ kia, chứ chẳng muốn đi đâu xa. Chuyện uống với bạn một ly cà phê, hay ăn một bữa trưa ngoài phố giờ đây cũng khó mà làm được. Thôi thì, đành lỗi hẹn ai đó mùa này, cố chờ mùa sau bạn nhé.

Mùa mới đang về. Hãy dang tay chào đón, với niềm kiêu hãnh của trái tim mãi mãi tuổi 20 luôn tươi xanh, bạn nhé.

Tân Châu
29-12-2015



Sa Giang

Tui khoái nghe bài ca vọng cổ bốn câu hơn là nguyên một tuồng cải lương, cũng giống như việc tui khoái đọc truyện ngắn hơn là một tiểu thuyết dài, vì vọng cổ và truyện ngắn đòi hỏi nhà văn hay soạn giả phải có một nội lực vô cùng thâm hậu mới có thể chuyển tới người đọc hay người nghe trong thời gian ngắn nhất, trực diện nhất cái mà mình muốn nói. 

Đó có thể là chuyện tình của một anh lái đò đưa khách qua sông hàng ngày thầm thương trộm nhớ một bóng hồng nào đó mà chẳng dám hé môi, hay chuyện một cô gái quê vì chữ hiếu nặng mang đành chấp nhận theo chồng về làm dâu xứ lạ, nhưng lòng vẫn mơ về hình bóng người thương giờ đã nghìn trùng xa cách (sao nghe có vẻ bi thương quá vậy, mà vọng cổ không bi thương thì cái thứ gì bi thương hỡi cao xanh?)

Dân mê vọng cổ như tui ai mà không thuộc những câu trong tình anh bán chiếu, trong võ đông sơ bạch thu hà, trong lan và điệp, trong trần minh khố chiếu. Dân mê vọng cổ như tui ai mà không biết những giọng ca vàng út bạch lan mỹ châu bạch tuyết lệ thuỷ thanh nga phượng liên thanh kim huệ tấn tài út trà ôn chí tâm phương bình thành được minh cảnh minh phụng minh vương, chỉ cần khi họ cất giọng lên, không đầy bảy nốt nhạc là tui biết ai đang ca liền, thấy tui tài chưa?

Tui mê mỹ châu hơn lệ thuỷ, nhưng nghe mấy bài lệ thuỷ hát tui thấy ưng cái bụng quá chừng. Ưng không phải vì giọng ca, mà vì cái tình cho làng quê, cho nghề nghiệp. Không tin thì thử nghe bài bánh bông lan đi, bảo đảm sẽ mê ăn bánh bông lan dài dài. Hay như bài hát về nghề làm bánh phồng ở sa đéc có tên là về sa giang, thử nghe đi, sẽ càng yêu quê hương mình thống thiết hơn. Nói thiệt nha, từ trước tới nay tui tự tin là mình biết nhiều bài ca vọng cổ, nhưng bài này tui chưa từng nghe bao giờ, nghe xong thấy ông soạn giả này tài ba quá, gắn chuyện tình người với đất với xóm làng, nghe mà hay quá. Thử nghe mấy câu nói lối như vầy nè, hỏi ai mà không muốn nghe cho hết bài ca cho được:

" Dầu dừa chiên bánh phồng
Gợi tình quê hương lưu luyến
Thiết tha với non sông
Thương mến bát ngát mênh mông
Giọng hò ai ngọt nước dừa xiêm
Ôi nụ cười ai thơm bánh phồng chiên"

Sáng nay, tui đi chợ Sa Đéc nè, có ai ăn bánh phồng Sa Giang không?
---
Sa Đéc
31-12-2015

Kẻ đơn côi

Em,

Dù mùa đông Hanoi có thú vị như thi ca, hay chán phèo như người Khmer nấu món Việt, thì người ơi, tôi xin người, hãy chấp nhận nó, hãy sống cùng với nó, đừng làm tổn thương cái quy luật của đất trời, mà lòng người chẳng thể vui lên thêm một chút. 

Cũng như người vậy, nếu chấp nhận cuộc chơi này thì người ơi, hãy mạnh dạn hơn, hãy nắng say với gió với mưa, đừng hờn dỗi vu vơ như trẻ chẳng được quà, đừng nửa mùa như uống trà sen ngắm trăng thu mà bánh  ngọt chẳng có người nào mang tới.

Giống như nỗi cô đơn mà người đang trải qua, dù trằn trọc, dù lê thê trong đêm dài bất tận, trong ngày dài miên man, thì người ơi, hãy chấp nhận thực tại đơn côi ấy, mà hãy sống nốt phần đời còn lại. Nếu có than vãn, người ơi, hãy mượn câu chữ mà giải bày. Nếu có quạnh côi, người hỡi, hãy lấy những giọt nước mắt lẻ loi mà sưởi ấm chút tình còn đọng lại trong trái tim chẳng có ngăn nào dành cho tình yêu đôi lứa, hôm nay.

"Đàn ông ở tuổi 50 sức khoẻ bắt đầu suy giảm, mà đàn ông không có một nửa của mình để đầu ắp tay gối bên cạnh, thì sức khoẻ lại càng suy giảm hơn. Y học và tình dục học đã chứng minh điều đó rõ ràng, như 2 cộng 2 là 4 vậy.- Anh giỏi quá mà, sao điều này anh chẳng biết?"

Em ơi, đừng có trách anh. Nếu có trách, em hãy trách chim đa đa vì em đang ở biển bắc mà nó bảo anh tìm ở biển nam, nên anh tìm em hoài mà chẳng thấy. Nên nỗi đơn cô theo anh dằn dặt suốt bao đêm dài.

Em ơi, đừng có giận anh. Nếu có giận, hãy giận bồ câu vì không chịu đưa thư. Thư anh viết cho em, dán tem đủ đầy, mà bồ câu chẳng chịu đưa tin, làm em mõi mòn chờ đợi, rồi dứt tình sang đò về xứ lạ. Nên tình yêu giờ đây với anh là một khái niệm mơ hồ, và có phần chênh vênh, không định vị.

Em ơi, anh không còn người của em 20 năm về trước. Anh đã thuộc về quá khứ. Anh giờ đây, như chiếc bóng trên tường, vui buồn với những vụn vặt của tháng ngày xưa cũ, vui thì ít mà buồn thì nhiều, em có biết chăng.

Em ơi, hãy tha thứ cho anh, tha thứ cho kẻ nhát gan, bạc nhược, không dám đi đến tận cùng tiếng gọi của trái tim mình, của cuộc đời mình. Hãy tha thứ lần này, lần đầu cũng như lần cuối, để lòng anh, và lòng hai ta được thanh thản hơn, nhẹ nhàng hơn đôi chút.

Khi cô đơn, anh không còn gọi tên em. Em đã thuộc về dĩ vãng, một dĩ vãng nhạt nhoà, giống như anh vậy. Nhưng dù sao, cảm ơn em đã đến bên anh, cho anh những ngày vui bất tận. Như con chim vui nhảy nhót suốt ngày, khu rừng ngày càng hẹp dần, vì chim bay xa hơn, cảnh đẹp hơn, để một ngày, chim đã bay xa, xa quá, để thấy chốn cũ sao trở nên nhỏ bé và lạc lõng quá chừng, để rồi ta chia xa, xa mãi mãi.

Gương đã vỡ, chẳng lành lại bao giờ, mà cuộc đời anh giờ chẳng còn hơi sức đâu mà đi tìm một gương khác. Thôi thì, người hỡi, hãy vui hãy buồn với những mảnh vỡ còn sót lại trên trần gian này, cho đến cuối con đường tàn phai, chẳng còn xa lắm.

Đêm nay, và nhiều đêm nữa, tôi biết "một mình tôi về, với tôi"./.

Hanoi, 19 January 2016














Sent from my iPhone

Xin cho tôi


Siem Reap mùa này, sáng sương mù giăng phủ cả lối đi ngoài phố, và cả trong những khu rừng già, nhưng chỉ vài giờ sau, sương bắt đầu tan, và nắng lên.


Nắng Siem Reap như nắng miền Đông quê tôi, nhất là những ngày giáp Tết, trời vừa nóng vừa hanh, chờ hoài một con gió mát lành mà chẳng thấy.


Mùa này, ở Siem Reap, cái nắng đi cùng cái khô. Vì khô, nên không khí oi ả vô cùng. Tội nghiệp lắm cho những ai không quen với tiết trời vùng nhiệt đới này, nhất là những người đến từ vùng ôn đới xa xôi. Qua nhiều tháng ngày đi rong, tôi nghiệm ra rằng, xứ nhiệt đới buồn không chỉ trong mưa, mà ngay cả khi nắng về.


Nắng lên, cũng là lúc mà các khu đền đài, thánh tích nhộn nhịp bước chân người qua kẻ lại. Kẻ đi gần thì vào Angkor Wat, còn người đi xa phải chạy tận tới Banteay Srey, hay đến núi Kuleng.


Nói thật, nếu không có Angkor, chẳng ma nào mà muốn đến thăm xứ này. Xứ gì mà mưa thì mưa dầm thối đất, mưa quên cả đất trời, còn nắng thì nóng như than nướng ở Hoả Lò. Và bụi nữa chứ, bụi mịt mù tung lên mỗi khi có xe nào đó chạy qua, và ngay cả trong đêm, ta cũng ngửi được bụi bay lên tóc, lên áo, vào mũi của mình.


Siem Reap xưa là xứ rừng, xứ rú, dù rằng bóng dáng hổ dữ, cọp vằn nay đã lùi vào dĩ vãng. Quả đúng là rừng thiêng nước độc. Sách xưa ghi rằng từ thế kỷ 15, nơi đây chẳng một bóng người, chỉ có tường thành trầm mặc rêu phong, cùng với đất trời và thần thánh, qua nắng qua mưa.


Vậy mà, giờ đây Siem Reap phát triển lắm. Nơi nào cũng thấy hotel, nhà hàng, tiệm giặt ủi, hiệu thuốc tây, minimark; còn xe tuk tuk, xe bán hàng rong, kiếng mát thì hiện diện khác nơi. Chỉ riêng đội ngũ tour guide thôi thì con số đã vượt qua 4 ngàn người. Để thấy Siem Reap giờ đây là chốn dung thân của nhiều người.


Đây là chốn người ta kiếm tiền, nên cái tình nơi đây nó nhẹ bông, nên nỗi nhớ Angkor không hề sâu đậm trong ai đó thì cũng là lẽ thường tình.


 "Xin cho tôi một sáng trời vui"


Siem Reap, 21 January 2016


Wednesday, 14 October 2015

Cho Mẹ

Tôi thích Siêm Riệp, đó là điều khó phủ nhận, nhất là những buổi sáng tinh mơ, thong dong đạp xe ngang qua những con đường làng dọc bờ sông, với những ánh vàng sóng sánh xuyên qua những tàn cây kẻ lá, lòng vui lên một niềm vui khó tả, chào đón một ngày hè oi ả đang về.

Nhưng tôi lại sợ nhất, cũng tại Siêm Riệp này, khi buộc phải nhìn từng giọt nắng cuối ngày, dần chìm vào đường chân trời xám xịt, cáo chung một ngày với những với những riêng tư đã hết, nhất là khi máy bay chuẩn bị rời đường băng, bay vút lên trời, để lại nơi ấy nhiều vấn vương, khó gọi thành lời.

Cuộc đời tôi có diễm phúc được đến nhiều nơi, ngắm bình minh cũng nhiều, và xem hoàng hôn cũng không ít. Nhưng trong cái không gian chập choạng giữa đất trời Siêm Riệp ấy, tôi cứ tưởng mình như đang bơi giữa đôi bờ sông rộng, rộng như Biển Hồ mỗi khi mùa nước lũ tràn về, chẳng biết đâu là bến là bờ, chơi vơi. Tôi nhớ về những người bạn thời thơ ấu, hồn nhiên. Tôi nhớ về những lần dại dột, ray rứt. Tôi đếm tuổi của mình, nhớ những nơi đi qua, những người đã gặp. Và như mọi lần, tôi lại nhớ về má tôi.

Má tôi, một bà mẹ quê chẳng lung linh như nhà văn nhà thơ nào đó đã viết. Má tôi hết sức bình dị giản đơn, một bà mẹ như bao bà mẹ trên dãy đất hình chữ S này, vẫn mong nghe những tiếng nói của con mình, qua đầu dây điện thoại bên kia, vẫn mong những lần đoàn viên ít ỏi trong năm, để hiểu và sẻ chia những nốt thăng nốt trầm trong khung nhạc cuộc đời của mỗi đứa con mà mình đã mang nặng đẻ đau.

Má tôi, một bà mẹ đã đi ngang qua hai cuộc chiến tranh, với làn tên mũi đạn, với nỗi nhọc nhằn của những miếng ăn, tấm áo, con chữ của đàn con, từ dạo theo chồng về làm dâu xứ lạ, cho đến ngày tóc của bà đã bạc kín cả mái đầu như hôm nay, đã hơn sáu mươi năm có lẽ. Hơn sáu mươi năm ấy, quê người giờ đã thành quê mình, và quê của con mình.

Má tôi, nay đã ngoài tám mươi lăm, vẫn còn minh mẫn. Tôi biết cuộc đời là hữu hạn, cuối cùng thì ai cũng phải về với đất trời. Tôi biết một ngày kia, má tôi sẽ đi gặp ba tôi và chị tôi, chắc lúc đó ba người họ sẽ vui lắm. Nói vui là nói theo kiểu của người phàm, chứ thế giới của người âm dưới kia có mấy ai trong chúng ta đã một lần tường tỏ.
 
Thật lòng, khi đứng giữa đất trời Siêm Riệp trong cái không gian giao thời ấy, tôi sợ, và tự nhiên nước mắt tôi rơi. Tôi khóc cho sự mong manh của một kiếp người. Tôi khóc cho sự bất lực của con người trước tạo hoá. Và tôi khóc cho mình, cho chính sự đơn côi và lạnh lẽo trên con đường mà mình đang chọn.

Quê, với tôi bây giờ không chỉ là cây cỏ bướm hoa. Đó còn là mộ phần của những người thân đã khuất. Và hơn hết, đó còn là bóng dáng của mẹ già, chiều chiều ngồi tựa cửa nhìn ra sân, lấy thú vui với cháu với chắt, cùng đám chó bầy gà làm niềm vui cuối đời cho mình. 

Chợt nghĩ, cuộc đời sao quá mỏng manh, mỏng như tờ giấy quyến trên tay ba vấn điếu thuốc lá ngày nào giữa buổi trưa cày ruộng, manh như tấm áo sờn vai trên tay má, với mũi chỉ đường kim bên ngọn đèn dầu le lói, của lúc đêm về, của những ngày đã rất là xa.

Giống như cuộc đời, yêu thương giờ đây sao cũng mong manh quá, mong manh như chuối chín trên cây, như giọt nắng cuối ngày, như tiếng còi tàu hụ báo hiệu một sân ga sắp đến. Mong sao đó không phải là sân ga cuối cùng, mong sao đó không phải là đường tàu cô độc, và những hành khách được gọi tên chưa phải là những người thân yêu của chúng ta, trong đó những người như má của tôi.

Để yêu thương còn lan toả...

---
Written by Duc Pham
Siem Reap- Hanoi- Saigon
October 2015

Thursday, 7 May 2015

Mây núi Nepal

Bài 3: 

MÂY NÚI NEPAL

Nếu Lâm Tỳ Ni là điểm đến dành cho người châu Á, nhất là dân các nước theo Phật Giáo, trong hành trình Ấn Độ- Nepal, thì sân bay tại Kathmandu luôn nhộn nhịp với những tay leo núi từ khắp nơi đổ về, nhất là thời điểm cuối tháng 3 đầu tháng 4, và dĩ nhiên khu phố Thamel tại thủ đô Nepal luôn là nơi hội ngộ anh tài, náo nức chuẩn bị hành trang cần thiết lên đường chinh phục những đỉnh cao chót vót tại quốc gia này

Nếu bạn thích trekking, bạn có thể liên hệ với bất kỳ công ty du lich chuyên về trekking ở Kathmandu và Pokhara. Tuỳ theo điều kiện sức khoẻ, thời gian của bạn, họ sẽ lên lịch trình và cung đường riêng cho bạn, và dĩ nhiên giá cả cũng khác nhau. Nhưng có một mẫu số chung là hãy bắt đầu hành trình của bạn từ Kathmandu, và kết thúc nó tại Pokhara.

Nếu bạn thích ngắm núi mà ngại việc trekking thì cũng chẳng hề hấn gì, các công ty du lịch sẵn sàng phục vụ bạn, miễn là bạn có tiền trong túi. Đó là những chuyến bay qua núi, được tổ chức hàng ngày, cũng ở hai điểm du lịch chủ lực này tại Nepal.

Nói về những chuyến bay qua núi, ở Kathmandu có Mountain Flight, còn ở Pokhara có Ultra Flight, nếu thời tiết đẹp bạn có thể ngắm dãy Hy Mã Lạp Sơn trong địa phận Nepal, với khoảng 20 ngọn núi cao, bằng loại máy bay nhỏ, chở khoảng 20 người, trong khoảng 45 phút, giá vé dao động từ 120-135 đô tuỳ hãng. Sau chuyến bay, niềm vui của bạn sẽ nhân lên rất nhiều, khi trên tay bạn cầm tấm giấy chứng nhận mang dòng chữ: "Tôi không leo lên Everest, nhưng tôi lại mở lòng ra với Núi". Đúng là nghệ thuật quảng cáo, và đó cũng là lý do người ta chẳng ngại thức sớm để bay, và dĩ nhiên bạn phải đặt chỗ trước một ngày, và chuyến bay có thể huỷ bất kỳ lúc nào khi thời tiết xấu.

Các bạn đều biết, rặng Hy Mã Lạp Sơn dài 2.400 cây số, trải dài từ Tây Tạng qua Nepal qua India qua Pakistan và Bhutan, mà tâm điểm của nó chính là ngọn Everest hùng vĩ. Nếu Hy Mã Lạp Sơn được mệnh danh là "Vương quốc của Băng Tuyết" thì ngọn Everest được xem như là "nóc nhà của thế giới" hay là "cực thứ ba của địa cầu". Điều này ai cũng biết cả.

Everest là tên của người Anh gọi ngọn núi cao nhất thế giới này (8.848m) trong rặng Hy Mã Lạp Sơn, theo tên của một nhân vật làm ở Sở Trắc Địa Ấn Độ, ông George Everest (1790-1866), người đã phát hiện ra đây là ngọn núi cao nhất thế giới bằng những số liệu đo đạc đã thu thập được. Chứ thật ra từ trước đó, người Tây Tạng và người Nepal đều có tên gọi cho riêng cho ngọn núi này. Nếu người Nepal dùng từ Sagarmatha (mẹ vũ trụ) thì người Tây Tạng lại gọi đó là Chomolungma (tên một Nữ thần Sắc đẹp), và dĩ nhiên công cuộc chinh phục đỉnh cao luôn là thách thức và niềm vinh quanh cho mỗi cá nhân và dân tộc.

Lịch sử chinh phục Everest là lịch sử oai hùng và thắm đượm bi thương. Có người thành công, có kẻ bỏ xác dọc đường. Có người được vinh danh, có kẻ bị quên lãng. Âu cũng là mệnh Trời hay phận số của mỗi con người khác nhau, nhưng nếu được chết cho lý tưởng, cho đam mê, cho hoài bão, cho một lần sống như một kiếp người thì cái chết ấy cũng đáng, cũng ý nghĩa làm sao. 

Lịch sử chinh phục Everest có trang đầu tiên khắc tên vàng hai nhân vật, một mang quốc tịch Tân Tây Lan- Edmund Percival Hillary, một sinh ra ở Nepal nhưng sống ở Ấn Độ- Tenzing Norgay, thuộc đội hình leo núi của nước Anh, được dẫn dắt bởi nhà leo núi tài ba John Hunt. Đó là thời khắc lịch sử của buỏi sáng ngày 29 tháng 5 năm 1953, mà sử sách sau này gọi là The First Ascent, Everest 1953, sau hành trình gần 80 ngày đêm cực kỳ gian nan thử thách.

Theo tôi, khoảng 90 phần trăm du khách đến Nepal là để leo núi, và tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời như lướt bè, kayak, đạp xe, nhảy dù, cắm trại, xem chim, cõi voi trong những khu rừng quốc gia ở Nepal. Dĩ nhiên là là người người trẻ, những người yêu thể thao, những người yêu thiên nhiên hoang dã. Nếu bạn muốn tìm sự tiện nghi hay hưởng lạc thì chắc chắn là Nepal không phải là điểm đến tương lai của bạn.

Còn tôi, tôi thích ngắm núi và đi trên những con đường ngoằn ngoèo bên núi. Đó là lý do vì sao tôi chọn Nepal trong kỳ nghỉ hè năm nay. Ngay cả việc chọn lối đi lên Pokhara từ Lâm Tỳ Ni, tôi cũng chọn cung đường đèo mà ít cánh tài xế nào muốn chạy, cơ bản vì đường xa hơn và đèo dốc hơn. Tính tôi hơi liều, và cũng thích phiêu lưu. Nhưng sau khi vượt qua cung đường dài gần 250 cây số này rồi, tôi mới thấy là mình lựa chọn đúng đắn. Đây là cung đường mà hàng thế kỷ trước, người Tây Tạng và người Ấn Độ đã sử dụng để giao thương buôn bán, trao đổi hàng hoá và giao thoa văn hoá. Đó là cung đường chạy từ Bhairawa đến Pokhara, được rải đá dăm từ những năm 1960, có độ cao tăng dần, với chục con đèo lớn nhỏ, có tên và không tên, chạy dọc theo những vực sâu thăm thẳm, những góc cua gợn người, núi non nghìn trùng trước mặt hai bên. Thỉnh thoảng xe ngang qua một xóm làng nhỏ, cư dân thưa thớt, có phần xác xơ, lòng bỗng chùng lại, suy nghĩ về cuộc đời sao mà khác nhau quá. Cũng có lúc lòng vui lại, khi qua những cung đường thấy hoa lá xôn xao, tiếng chim vui hót, với mấy chú sóc băng ngang, với suối nước róc rách. Nhưng cái tuyệt cái hay trên đèo trên núi là những phút giây khi lòng mình lắng lại, có cảm giác là không gian ngừng lại, và thời gian đọng lại, để cho ta đối diện với chính mình, để tự tìm câu trả lời cho câu hỏi thế gian là gì và đời mình sẽ đi về đâu.

Đi về đâu trong cuộc đời này thì tôi chưa rõ, nhưng tôi biết là tối nay tôi sẽ nghỉ lại nơi đâu. Đó là Tansen, một điểm dừng chân trong chặng đường này. Tansen là một thị trấn nhỏ, nhưng duyên dáng. Cái duyên dáng này được kế thừa từ nền văn hoá của bộ tộc Newari có hàng ngàn năm trước, với những con đường quanh co doc núi đồi được lát bằng đá cuội, với những ngôi nhà truyền thống màu hồng nhạt, có khung cửa bằng gỗ chạm khắc công phu, với nghề dệt thổ cẩm gia truyền qua bao thế hệ, tất cả làm nên một Tansen vang bóng dến tận ngày nay. Chàng tiếp tân kể rằng, mùa đông thì lạnh lắm vì Tansen nằm trên núi cao, nhưng Tansen rất đẹp và rất nên thơ khi những làn sương sớm mùa đông phủ đầy thung lũng Madi. Sương Madi trắng xoá, chẳng chịu bay đi, cứ dủng dẳng dùng dằng, chẳng biết nơi đâu là mây nơi đau là núi, làm cho những ai từng ngang qua đây, khi đi xa sẽ nhớ hoài nhớ mãi. Hỏi nhớ gì, câu trả lời nhớ mây nhớ núi nhớ sương, nghe cũng bùi tai lắm chứ.

Ở những vùng núi cao như Tansen chẳng hạn, ta bắt gặp những con người Nepal chính thống. Trông họ hiền lành, chất phát và yêu đời. Nơi đây, trên những rẻo cao này, người theo Phật Giáo chan hoà sống chung với người theo Ấn Giáo. Chan hoà như những ngón tay trong một bàn tay, chan hoà như những bát nước đầy khi đối nhân xử thế, chan hoà như những anh em thuận thảo và hiếu nghĩa với mẹ cha, với xóm giềng. Lúc hoạn nạn thì có nhau, chia ngọt sẻ bùi, không biệt anh là người Tây Tạng hay người Butan hay là người Mongolian hay là người Ấn Độ. Như cách mà Ấn Độ cưu mang Đức Dalai Lama sau năm 1959 khi họ từ bỏ Lhasa đi lánh nạn, và đó cũng là cách mà Nepal đã cưu mang những người tỵ nạn láng giềng đến từ Tây Tạng và Butan, trong mấy mươi năm qua, dù quốc gia cũng rất nghèo.

Ở những vùng núi đồi như Pokhara chẳng hạn, mở mắt ra thì thấy núi. Những buổi sáng trong lành hay trong những chiều quanh mây đãng, núi in hình bóng của mình xuống mặt nước hồ trong xanh thăm thẳm, làm tôi liên tưởng đến một bến nước Tầm Dương nào đó hiện diện tại xứ núi Nepal này, dù liên tưởng này chẳng mang tính logic nào. 

Với diện tích núi đồi chiếm gần 75 phần trăm diện tích, trong đó có 8 ngọn núi cao nhất thế giới, quanh năm tuyết trắng, núi là một phần đời không thể thiếu trong con người Nepal. Bên núi họ được sinh ra. Bên núi họ được lớn lên. Bên núi họ được vỗ về sau những tháng ngày rong chơi trong thiên ha, để rồi bên núi họ nhắm mắt xuôi tay, đi vào giấc ngủ nghìn thu, mặc cho mây trời kia có nghiêng ngã, chập chờn.